Trang chủ » Các dân tộc Việt Nam »

Dân tộc Chu Ru

Trong bài viết này, các bạn hãy cùng Địa Ốc Thông Thái tìm hiểu một cách chi tiết về dân tộc Chu Ru nhé. Các nội dung bao gồm phong tục tập quán, hoạt động sản xuất, văn hóa, trang phục, tổ chức cộng đồng, tập tục cưới xin, sinh đẻ, ma chay của người Chu Ru.

Tổng quan về người Chu Ru

  • Tên gọi khác: Chơ-ru, Ru.
  • Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô – Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me).
  • Dân số: 23.242 người (Tổng điều tra dân số 2019).
  • Cư trú: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một số khác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Ðồng. Tại hai huyện An Sơn và Ðức Linh thuộc tỉnh Ninh Thuận cũng có vài ngàn người Chu Ru sinh sống.
  • Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Chu Ru.
Trang phục truyền thống dân tộc Chu Ru
Hình ảnh dân tộc Chu Ru trong trang phục truyền thống. Tác giả: Nguyễn Minh Ngọc.

Trang phục truyền thống của dân tộc Chu Ru

Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục như: váy, áo, khố, mền, địu… có được đều do trao đổi với các tộc láng giềng như: Chăm, Cơ Ho, Raglai, Mạ…

Nhà của người Chu Ru

Người Chu Ru ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng (plei) và những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau. Đại gia đình người Chu-ru thường có 3 thế hệ, sống trong nhà dài.

Tập tục khi làm nhà mới

Việc dựng nhà mới được coi trọng với sự tập trung tâm lực của gia đình chủ và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng làng. Khi khánh thành nhà mới và dọn về ở nhà mới, họ hàng và cả làng quây quần giúp đỡ. Họ tổ chức tiệc mặn để cầu cúng thần linh, thụ lộc và chia vui cùng gia chủ.

Hoạt động sản xuất – kinh tế

Người Chu-ru sống định canh định cư với nghề làm ruộng từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Giờ đây đồng bào còn trồng dâu nuôi tằm, đời sống tương đối ổn đỉnh. Ngoài trồng trọt, người Chu-ru còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê và nhiều loại gia cầm. Người Chu-ru cũng biết đan lát các đồ dùng gia đình bằng mây tre, tự rèn các công cụ sản xuất  như liềm, cuốc, dao… Có các làng nổi tiếng về nghề gốm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá đem lại nguồn thức ăn đáng kể hàng ngày.

Phương tiện vận chuyển

Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.

Quan hệ xã hội

Quan hệ chủ đạo trong cơ cấu xã hội Chu Ru là gia đình mẫu hệ với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người thừa kế của gia đình, dòng họ mẹ. Nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta thấy người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực để cho xã hội được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. Thực ra, họ đã hành động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ theo tục cưới chồng. Xã hội đã có sự phân hoá giàu, nghèo nhưng không có sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng.

Văn hóa nghệ thuật

Làng (Plây) của người Chu-ru bao gồm nhiều dòng họ; gần đây có cả những người khác tộc đến cư trú. Đứng đầu làng là Pô plây (trưởng làng) do bầu ra, không mang tính cha truyền con nối. Người có uy tín về tinh thần sau trưởng làng là thầy cúng. Các nghi lễ nông nghiệp của người Chu-ru khá phong phú như cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa, ăn mừng lúa mới… Đáng lưu ý  là lễ cúng thần Bơ-mung (thần đập nước) vào tháng 2 âm lịch. Người Chu-ru có vốn dân ca, ca dao tục ngữ phong phú, trong đó nổi bật chủ đề ca tụng chế độ mẫu hệ và vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Trong kho tàng văn nghệ dân gian  có hàng loạt trường ca, truyện thơ có giá trị nghệ thuật cao và là nguồn sử liệu quý giá, có nhiều nhạc cụ: chiêng cồng, trống, sáo, đàn, kèn v.v…

Văn hóa ẩm thực – món ăn tiêu biểu

Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi đất nung tự tạo. Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn. Thức ăn có măng rừng, rau đậu, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần và rượu cất. Nam nữ đều thích hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

Phong tục hôn nhân của người Chu Ru

Hôn nhân một vợ một chồng, người con gái chủ động cưới chồng, người chồng cư trú bên nhà vợ.

Phong tục cưới hỏi của người Chu Ru

Người phụ nữ chủ động trong quan hệ lứa đôi. Việc “hỏi chồng” và “Cưới chồng” được thực hiện qua những thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm. Sau lễ cưới, người con gái phải ở dâu nửa tháng tại gia đình chồng để chờ lễ đón rể về nhà. Họ cư trú phía nhà gái.

Phong tục tang ma của người Chu Ru

Người Chu Ru theo tục thổ táng tại nghĩa địa chung của làng. Xưa kia, việc ma chay thường được tổ chức linh đình với lễ hiến sinh trâu bò.

Phong tục ngày tết

Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer, một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh. Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt dưới gốc cây.

Lịch của người Chu Ru

Người Chu Ru theo lịch âm, tính tháng chu kỳ canh tác nông nghiệp của tổ tiên xưa.

Chữ viết và học tập của người Chu Ru

Trước kia, người Chu Ru không có chữ viết, mọi sự truyền đạt, thông tin đều qua truyền khẩu.

Lễ hội và vui chơi của người Chu Ru

Sở thích của trẻ em là đánh cù, chơi thả diều (diều bướm và diều sáo). Chúng cũng hay chơi trò kéo co, đi cà kheo, đuổi bắt nhau…

Địa Ốc Thông Thái